Bánh xu-xuê Đình Bảng từ nhà…ra đường !

Thời gian vừa qua, Đài truyền hình và một vài phương tiện thông tin đại chúng giới thiệu một đặc sản nổi tiếng của đất Bắc Ninh là bánh xu-xuê Đình Bảng – mà thực khách bốn phương vẫn hằng mến mộ từ mấy trăm năm nay. Trên màn hình, chúng ta được biết khá tường tận kỹ thuật làm bánh, bàn tay tài hoa của các nghệ nhân làm bánh, màu sắc hấp dẫn và vị thơm ngon đặc biệt của loại bánh này. Chúng ta cũng được xem hình ảnh bày bán la liệt bánh xu-xuê ở dọc đường Quốc lộ 1A – đoạn rìa làng Đình Bảng suốt từ Chùa Dận đến đầu thị trấn Từ Sơn.
Những hình ảnh đó hoàn toàn là trung thực. Nhưng vấn đề là ở chỗ những người sành ăn ở địa phương không bao giờ mua bánh xu-xuê bày bán dọc đường, vì mấy lẽ:
-Một là, rất có thể không mua được loại bánh mới sản xuất, mà thường là mua phải loại bánh “quá đát” do không bán hết nên không còn vị thơm ngon hoặc bị ôi, mốc. Nhất là trong mùa hè nóng nực, bánh rất dễ bị biến chất. Những chiếc bánh để lưu cữu này rất khó bị phát hiện, vì lá bọc bên ngoài luôn luôn được thay đổi, tươi xanh “như mới” và có tem nhãn “nghiêm chỉnh”, người mua không thể biết được.
-Hai là, gần đây có thể có một số người sử dụng hóa chất chống ôi thiu để bảo quản bánh được lâu dài. Không ai có thể đảm bảo rằng, những hóa chất này sẽ không gây ra những hậu quả xấu cho thực khách.
-Ba là, chất lượng bánh không đảm bảo.Một tấm bánh xu-xuê được gọi là ngon, phải là: khi bóc bánh không bị dính lá, cùi bánh dày màu hổ phách, trong suốt và mịn màng, nhân bánh bằng đậu xanh pha lẫn cùi dừa và hạt sen có màu vàng và mùi thơm tự nhiên (nếu có mùi thơm của va-ni cũng chỉ nên thoảng qua), vị ngọt vừa phải của đường kính tinh khiết. Vì loại bột dùng làm cùi bánh (chủ yếu là tinh bột nếp nguyên chất) đắt hơn nguyên liệu làm nhân bánh, nên với những chiếc bánh rẻ tiền thì lớp cùi bánh rất mỏng,hoặc làm bằng bột kém phẩm chất, mà nhân bánh lại nhiều chất độn.
Một cặp bánh (2 chiếc) chất lượng đảm bảo được sử dụng trong các đám cưới ở địa phương giá là 10.000 đồng đã là lịch sự, mỗi mâm cỗ ở Đình Bảng ngồi 4 người sử dụng một chiếc bánh cắt làm 4 miếng là rất tiện. Loại bánh “cao cấp” mới tính đến giá 15.000 đồng, 20.000 đồng một cặp. Còn ở ngoài đường thì là vô giá ! Cô bán hàng có đôi mắt lá răm rất đẹp kia có khi rao giá 20.000 đồng một cặp, nhưng khách chỉ cần trả 10.000 đồng, 5.000 đồng hoặc 3.000 đồng cũng bán, nghĩa là giá nào cũng bán, nhưng mang về chưa chắc đã ăn được. Đây là vấn đề có thực mà không ít bạn bè và người thân thuộc của tôi ở Hà Nội và các tỉnh xa, không biết mua phải, và đã phản ánh lại.
Tôi rất thông cảm với những bà con “nhạy bén” với kinh tế thị trường, và cũng vì đời sống mà đưa bánh ra bày bán ở dọc đường từ mấy năm nay. Họ cũng chẳng bán được bao nhiêu, chủ yếu là trong mùa lễ hội, cho khách vãng lai, nhưng đã làm ảnh hưởng rất nhiều đến uy tín của loại bánh truyền thống.
Trên thực tế, bánh xu-xuê luộc chín để nguội, sau một ngày mới ăn là ngon nhất, nhưng cũng không nên để lâu quá 3 ngày, vì nếu về mùa đông bánh sẽ rắn lại, mà về mùa hè dễ bị ôi thiu. Trong điều kiện hiện nay, không nên sử dụng bánh xu-xuê theo kiểu “mỳ ăn liền” nếu không biết rõ nguồn gốc (địa chỉ và thời gian sản xuất), để tránh bị rối loạn tiêu hóa hoặc bị ngộ độc. Bánh cần được bảo quản ở nhiệt độ từ 20oC đến 25oC là vừa phải. Cũng không nên để bánh trong tủ lạnh vì rất mau cứng và dai. Trong trường hợp này thì cho bánh vào chõ (hoặc nổi cơm đã cạn) và đồ lại bằng hơi nước nóng thì bánh sẽ mềm như bánh mới.
Xin lưu ý các bạn rằng: vì bánh xu-xuê rất khó bảo quản, nên những nhà sản xuất có trách nhiệm không bao giờ làm bánh để bán sẵn dù ở nhà hoặc dọc đường, để giữ tín nhiệm sản xuất của mình. Họ chỉ sản xuất theo đơn đặt hàng và có hướng dẫn cho khách những điều cần biết khi sử dụng. Sau khi đặt hàng 12 giờ đồng hồ, khách mua có thể nhận được bánh. Nhà sản xuất chỉ giao cho khách khi bánh đã nguội hẳn.
Nghề làm bánh xu-xuê có lợi nhuận khá cao (tỷ lệ tiền công và tiền lãi ở những người làm ăn nghiêm chỉnh cũng phải sấp sỉ 100% so với vốn bỏ ra). Mấy chục năm trở về trước, nghề làm bánh xu-xuê được giữ kín như một nghề gia truyền, rất ít người biết làm. Nhưng nay công đoạn khó nhất là làm bột cùi bánh thì bột đã được bán sẵn, và những công việc còn lại cũng không còn là bí mật. Bởi vậy rất nhiều người đua nhau làm, con số lên đến hàng trăm gia đình biết nghề. Một số người hám lợi, chỉ cần làm giảm chất lượng bột cùi bánh đi một chút, cho nguyên liệu làm nhân độn tập thêm một chút là lãi suất có thể lên tới 150% hoặc cao hơn nữa.
Tuy có lãi suất cao như vậy, nhưng vẫn phải nói rằng, làm bánh xu-xuê là một nghề vất vả vì phải qua nhiều công đoạn, bởi vậy không phải ai cũng muốn làm. Nhất là trong tình hình bung ra, tốt xấu lẫn lộn như hiện nay, những người làm bánh có ý thức trân trọng đối với uy tín và chất lượng của sản phẩm cổ truyền không phải lo lắng, băn khoăn. Có một số người không muốn làm bánh bán nữa vì sợ mang tiếng vàng thau lẫn lộn. Trên thực tế thì không ít người chạy theo lợi nhuận; họ cho rằng dù có làm tốt thì người tiêu thụ cũng chẳng biết đấy là đâu ! Họ đã nhầm và họ đã quên mất một điều rất đơn giản là: chính chất lượng và giá cả đã và sẽ mãi mãi là “bí quyết” cho sự tồn tại và phát triển của một cái nghề quý giá mà chính cuộc sống của mình đang trông cậy.
Sơn Phong – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(81)1999

Những ngón hiểm trên thương trường quế xưa

Dù không có tiếng súng, không đổ máu, thương trường vẫn không kém phần quyết liệt so với chiến trường. Những sự việc xảy ra ở một vùng quê lớn nhất nước ta cách nay hàng trăm năm từng cho thấy điều đó. Những “ngón hiểm” thời ấy vừa có giá trị sử liệu vừa cho ta những kinh nghiệm bổ ích. Những “ngón” ấy là gì?.
Mua chuộc kẻ thừa hành
Cây quế thuở xưa được xem là cây đặc sản có giá trị rất cao ở nước ta. Ngoài quế Thanh ở Thanh Hoá, quế quỳ ở Nghệ An (thường là quế rừng, thì quế Quảng (Quảng Nam, Quảng Ngãi) là vùng quế trồng lớn nhất nước ta. Nhưng ở Nam – Ngãi, quế cũng chỉ được trồng tập trung ở hai châu miền ngược hiểm trở là Trà Mi, Trà Bồng và người trồng quế chủ yếu là dân Cor bản địa. Người Trung Hoa vốn xem quế như một phương thuốc chữa bách bệnh. Người Hoa kiều sống ở các đô thị cổ Hội An, Thu Xà, không xa lắm với vùng quế Quảng, không biết bao giờ đã phát hiện ra điều này và thực hiện việc buôn bán quế về cố quốc, kiếm “một vốn bốn lời”. Vua Minh Mạng (1820-1840) thấy vậy mới giao cho ông hoàng Kiến An được độc quyền mua bán quế.
Một số kỳ hào sở tại sau khi đã nộp một khoản tiền nhất định sẽ được ban chức lãnh mãi, thừa hành ông hoàng kiểm soát vùng quế. Người lái buôn nào muốn vào vùng quế cũng phải nộp tiền và cũng chỉ được đến một làng nóc nhất định, không được đi xa hơn. Lãnh mãi còn có quyền mua bán quế mà người Cor mang xuống, không cho họ tiếp xúc với thương nhân Việt và Hoa vốn rất khao khát mua bán quế.
Các thương nhân Hoa không hề nản lòng trước độc quyền và sự phong toả chặt chẽ đến thế. Họ biết các lái buôn hầu hết là người nghèo, họ không ngại ứng trước hàng, tiền, chiều chuộng mọi ham muốn của tầng lớp này, biết các lái buôn từ tay chân của các lãnh mãi thành kẻ thông đồng với họ. Lái buôn đến các làng nóc với những dân phu khuân vác chiêng, nồi,vải vóc… để đổi quế mang về cho người Hoa – tất nhiên vẫn phải nộp lệ phí cho lãnh mãi. Là chủ nợ, đã ứng trước mọi chi phí người Hoa ngày càng siết chặt lái buôn bằng những giá quế rất hời. Thậm chí, đến các lãnh mãi cũng bị mua chuộc, trở thành kẻ trung gian buôn bán giữa người Hoa và người Cor. Nhờ khôn khéo mua chuộc những kẻ thừa hành, người Hoa đã phá được thế độc quyền và sự phong toả của nhà Nguyễn về buôn bán quế.
Tìm cửa thuận lợi và phong toả đầu ra.
Đến thời thực dân pháp bắt đầu thực hiện quyền bảo hộ, thì trong khoảng thời gian 1886 – 1889, quế xuất cảng phải chịu thuế suất 50%. Hoa kiều ở Hội An và Thu Xà nhanh chóng nắm được thông tin ở xứ Nam kỳ thuộc địa hàng xuất từ cảng Sài gòn được miễn thuế, nên họ đã gửi quế vòng vào Sài gòn mới xuất đi.
Khâm sứ Pháp Hector rất kinh ngạc về số tiền lời do người Hoa kiếm được từ buôn bán quế, lại đề nghị chính phủ lập chế độ công quản (nhà nước độc quyền) buôn bán quế và đã được chấp thuận. Kho tàng, nhân sự của cơ quan công quản được thiết lập ở Trà Mi, Trà Bồng bắt đầu hoạt động, với số nhân viên cấp dưới tuyến từ số lãnh mãi và lái buôn trước kia đã bị người Hoa mua chuộc và ràng buộc. Nhà nước bảo hộ đã phải bỏ ra đến trên 12.000 quan để trả nợ giúp họ hòng cắt đứt mối ràng buộc của họ với thương nhân Hoa. Thế nhưng số quế mua được vẫn rất ít do bị thất thoát ra ngoài. Lãnh mãi và lái buôn vẫn bị mua chuộc, và hàng hoá trao đổi vẫn không được người Cor ưa chuộng bằng hàng hoá do người Hoa cung cấp. Hoa kiều còn nắm được một điểm yếu khác, là dù việc xuất khẩu quế bao gồm cả châu u, song lượng quế xuất lớn nhất vẫn là thị trường Trung Quốc thông qua ngả Hồng Kông. Họ liên kết với người Hoa ở Hồng Kông để đặt giá rất thấp đối với quế công quản nhập vào. Đến đây thì chính quyền thực dân đành chịu thua. Họ phải thay thế công quản bằng trưng thi, nhưng cũng không xong, rốt cuộc phải định thuế suất xuất khẩu 25 đồng cho mỗi tạ quế. Nhờ cần mẫn và khéo léo, Hoa kiều đã tìm được cửa ra có lợi nhất, đồng thời phong toả cửa ra của đối thủ, và họ đã thành công một cách không ngờ.
Cao Chư dịch – Tuần Du lịch – Số 39(91) 27/9 -4/10/1999

Du lịch Nghệ An triển khai các chương trình hành động quốc gia

Sở Du lịch Nghệ An vừa mở Hội nghị triển khai đề án “Bước đi phát triển Du lịch Nghệ An 1999 – 2000 và những năm tiếp theo”.
Trên cơ sở kết 6 tháng đầu năm 1999, đánh giá kết quả kinh doanh 7 tháng, hội nghị nhất trí thông qua đề án “Bước đi phát triển Du lịch Nghệ An 1999 – 2000 và những năm tiếp theo” với mục tiêu quyết tâm phát triển Du lịch Nghệ An thành ngành kinh tế chiến lược quan trọng của tỉnh.
Nhân dịp này Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An cũng vừa ra chỉ thị số 34/1999 CT-UB về việc tăng cường công tác quản lý hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh. Chỉ thị đã đề cập đến những vấn đề bức xúc của ngành du lịch. Tập trung đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, xúc tiến quảng bá du lịch; tăng cường việc thanh tra, kiểm tra việc tuân thủ luật phát triển chương trình truyền hình: “Du lịch Nghệ An qua màn ảnh nhỏ” phát sóng định kỳ hàng tháng nhằm tuyên truyền giáo dục toàn dân hiểu biết về Du lịch.
Khách du lịch tham quan ngũ hành sơn tăng mạnh trong tháng 7
27.800 lượt khách đã đến tham quan khu danh thắng Ngũ Hành Sơn, trong đó có 25.250 lượt khách nội địa, chiếm trên 90% tổng số lượt khách, tăng 26,5% so với các tháng trước. Ban quản lý khu danh thắng Ngũ Hành Sơn đã có nhiều cải tiến trong việc tổ chức phục vụ khách, lập dự án xây dựng thêm các điểm vệ sinh môi trường, tạo tâm lý thoải mái cho du khách. Vì vậy, từ đầu năm đến nay, gần 150.000 lượt khách đã đến tham quan Ngũ Hành Sơn, doanh thu đạt 1 tỉ 349 triệu đồng, đạt 67% kế hoạch năm 1999.
Hà Tây: Thành lập chi nhánh du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh
Từ mùa hè năm 1999, Công ty Du lịch tỉnh Hà Tây đã thành lập Chi nhánh du lịch đóng tại số 16, phố Nguyễn Hữu Cảnh, phường Tân Định, quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh và bắt đầu hoạt động. Đến nay, Chi nhánh đã tổ chức thành công nhiều chuyến du lịch cho khách lữ hành. Ngoài việc bảo đảm nơi ăn chỗ ở cho du khách, Chi nhánh còn lo chu đáo việc đưa khách đi thăm quan du lịch và hướng dẫn khách quốc tế là ở các nơi theo yêu cầu của khách. Mặc dù mới thành lập, bộ máy nhân sự vừa hoàn thiện, nhưng hoạt động của Chi nhánh du lịch của tỉnh Hà Tây đóng tại TP Hồ Chí Minh đã có nhiều thuận lợi, mở ra hướng hoạt động mới cho ngành Du lịch tỉnh Hà Tây.
Du lịch Đắk Lắk: 7 tháng doanh thu đạt 145,57% so với cùng kỳ
Từ đầu năm 1999 đến nay hoạt động du lịch bên địa bàn tỉnh Đắk Lắk có nhiều hướng chuyển biến tốt so với các năm trước. Các điểm du lịch như Buôn Jun (hồ Lăk), Buôn Trí (bản Đôn)… đều được nân cấp xây dựng thành Buôn văn hóa, làm cầu treo phục vụ khách tham quan du lịch. Vì vậy trong 7 tháng năm 1999 đã có 47.136 lượt khách du lịch đến Đắk Lăk, tăng 22% so với cùng kỳ, trong đó khách nội địa tăng 26% so với cùng kỳ. Ngày lưu của khách tăng xấp xỉ 0,1 ngày so cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ du lịch 7 tháng năm 1999 tỉnh Đắk Lắk thực hiện 21,22 tỷ đồng đạt 75,78% so với kế hoạch, bằng 145,57% so cùng kỳ năm 1998.
Nguyễn Thanh Linh-Du lịch-Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-34(86)-1999

Hà Nội thêm những tín hiệu vui

-Trong thời gian ở thăm đất nước Cu Ba, Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã hội đàm với bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Cu Ba phi-đen Ca-xtơ-rô. Nhân dịp này Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu được trao tặng Huân chương Hô-xê Mác-Ti, phần thưởng cao quý nhất của Nhà nước Cu Ba. Ngày 14-7-1999 tuyên bố chung Việt Nam Cu Ba đã được ký, đánh dấu bước phát triển mới tình anh em hai nước.
-Sau khi kết thúc tốt đẹp chuyến thăm Iran, Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh đã thăm hữu nghị chính thức nước Cộng hòa A-rập Ai-Cập từ ngày 7 đến 12-7.
-Ngày 10-7, Anh hùng Núp, người con ưu tú của Tây Nguyên đã từ trần. Lễ truy điệu và an táng Anh hùng Núp được tổ chức trọng thể ngày 12-7 tại tỉnh Gia Lai.
-Tính đến ngày 12-7, sau 54 ngày phát hành, toàn quốc đã đạt tổng số thu công trái là 4.103,3 tỷ đồng. Tiếp tục phát hành đến ngày 15-7, ước tính số vượt kế hoạch đề ra sẽ hơn 300 tỷ đồng. Hà Nội vẫn là thành phố dẫn đầu về số lượng phát hành công trái trên cả nước.
Phiên họp thường ký Chính phủ: Bảy nhóm giải pháp nhằm thực hiện thắng lợi kế hoạch năm 1999
Trong hai ngày 5 và 6 tháng 7 Chính phủ đã họp phiên thường kỳ để kiểm điểm tình hình thực hiện kế hoạch 6 tháng qua và đề ra các giải pháp thực hiện kế hoạch 6 tháng còn lại của năm 1999.
Nhìn chung 6 tháng đầu năm 1999 tình hình kinh tế xã hội vẫn tiếp tục ổn định, kinh tế tiếp tục tăng trưởng, lĩnh vực văn hóa xã hội có bước tiến bộ. An ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững, quan hệ quốc tế tiếp tục được mở rộng. Tuy nhiên tình hình kinh tế xã hội cũng còn nhiều khó khăn tồn tại thách thức việc hoàn thành kế hoạch phát triển năm 1999.
Xác định rõ nhiệm vụ nặng nề cần tiếp tục thực hiện trong 6 tháng cuối năm, Chính phủ đã thống nhất trong thời gian tới tập trung chỉ đạo thực hiện đồng thời 7 nhóm giải pháp lớn. Đó là: các giải pháp kích cầu đầu tư và tiêu dùng nhằm khuyến khích phát triển sản xuất – kinh doanh; các giải pháp khuyến khích xuất khẩu; các giải pháp về tài chính và tiền tệ; các giải pháp về ổn định môi trường đầu tư sản xuất, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước; tập trung chỉ đạo công tác xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ cho các xã đặc biệt khó khăn; giải pháp về các lĩnh vực xã hội; về đổi mới công tác điều hành.
-Khởi công tôn tạo khu Thái Học Văn Miếu – Quốc Tử Giám
-Đón nhận giải thưởng “Thành phố vì hòa bình”
Ngày 13.7.1999, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội đã chính thức khởi công xây dựng khu Thái Học trong Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Dự tính công trình sẽ hoàn thành vào tháng 9/2000, nhân kỷ niệm 990 năm Thăng Long – Hà Nội. Mạnh Thường Quân, đơn vị tài trợ chính cho công trình là Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam với số tiền là 13 tỷ 900 triệu đồng (1 triệu USD).
Nơi đây sẽ lưu giữ, trưng bày và giới thiệu các tư liệu, hiện vật về lịch sử Văn Miếu – Quốc Tử Giám, nền giáo dục Nho học thời phong kiến và tinh hoa của quá trình phát triển văn hóa giáo dục của nước ta. Đây cũng là nơi tổ chức các hoạt động văn hóa truyền thống dân tộc, lưu danh, thờ kính các danh nhân văn hóa dân tộc.
Cũng dịp này, Thủ đô Hà Nội vinh dự được UNESCO trao giải thưởng “Thành phố vì hòa bình” năm 1999. Đây là lần đầu tiên UNESCO tổ chức xét chọn và trao giải thưởng này cho 5 thành phố đại diện 5 châu lục. Hà Nội là đại diện duy nhất trong số 11 ứng cử viên của khu vực châu Á – Thái Bình Dương được trao giải thưởng vì đã có thành tích nổi bật trong hoạt động văn hóa, giáo dục, phát huy bản sắc của dân tộc góp phần phấn đấu vì nền hòa bình của nhân loại.
Những tín hiệu vui cứ dồn dập đến với Hà Nội. Chúc cho Thủ đô yêu quý của chúng ra vững bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên 1.000 năm Thăng Long.
Hoàng Thanh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(81)1999

Hào bao – một đặc sản độc đáo của Phú Quốc

Không phải tự nhiên mà người phương Tây gọi Phú Quốc là “Trân Châu” của Đông Nam Á. Bởi Phú Quốc vừa đẹp vừa giàu tài nguyên thiên nhiên “trên rừng dưới biển” từ lâu đời với những đặc sản: tiêu, nước mắm, ghẹ, mực… nay có thêm hào bao đã vượt biển vào đất liền đi khắp nơi trong nước và một số nước trên thế giới.
Hào bao hơi giống sò nhưng dẹp hơn, bên ngoài: vỏ xù xì đầy rong rêu hoặc hào bám vào. Có lẽ vì vậy mà nó có tên là hào bao. Bên trong vỏ lấp lánh ánh xa cừ. Còi hào bao là phần cơ dùng khép, mở hai mảng vỏ hình chóp bằng đầu ngón tay út. Hào bao càng lớn còi càng to. Còi màu trắng đục có thể chế biến thành nhiều món ăn nhưng đậm đà ấn tượng nhất là món “Hào bao xỏ lụi” rất dân dã (xỏ bằng cọng dừa nướng trên than hồng) khi còi bén lửa mùi thơm bốc lên, ăn vừa giòn, vừa ngọt, mực và tôm không thể sánh được. Chưa ăn món nà là chưa biết hương vị đặc sắc của vùng biển Phú Quốc.
Để có được còi hào bao người ta khai thác phải qua nhiều khâu từ việc bắt hào bao đến việc tách vỏ lấy còi nhất ở độ sâu từ 3 đến 6 mét. Đảo Phú Quốc hào bao có nhiều ở bãi Bốn Hàm Ninh (phía tây đảo) và ở bãi Dương Đông (phía đông đảo). Khai thác hào bao theo mùa, từ tháng 2 đến tháng 9 bắt ở bãi biển, những tháng còn lại bắt ở bãi Dương Đông.
Người lấy còi hào bao thì nhẹ nhàng hơn, đa số là phụ nữ, trẻ con. Cứ một kg còi được 8.000 đồng, trung bình ngày tách từ ba đến 4 kg (một trăm kg hào bao được hơn 3 kg còi). Tách vỏ hào bao không khó nhưng phải biết cách, nhìn mũi dao thoăn thoắt theo một quy trình thống nhất. Đầu tiên lách dao cắt đứt một bên còi để tách rời 2 vỏ, tiếp theo cắt phần còi còn dính ở vỏ còn lại, thế là xong. Ngoài ra còn tất cả cơ quan khác của hào bao được dùng làm thức ăn cho gia súc. Mừng nhất là vừa tách rời 2 vỏ xuất hiện hạt ngọc trong miệng hào bao. Màu vàng có khi ửng hồng tù hạt lớn nhỏ đẹp xấu giá từ vải chục đến vài trăm ngàn.
Khác với các sò khác, vỏ hào bao cũng có giá trị dùng làm các mặt hàng cần xà cừ, nút áo xuất khẩu nên giá trị 1 kg hào bao bán được 2.400 đồng trong khi vỏ giá đến 2.200 đồng sau khi được lựa lại. Trước kia còi hào bao chỉ dùng làm thức ăn như một số sò ốc khác phục vụ dân địa phương. Từ ngày còi và vỏ chế biến thành hàng xuất khẩu việc khai thác hào bao với quy mô lớn hơn. Xóm bãi Bốn ồn ào sôi động hẳn lên trong mùa khai thác, tạo được việc làm cho mấy trăm trẻ em, phụ nữ khu dân cư hàng cây số nhà nào cũng tách hào bao trong những trại lá đơn sơ hoặc quây quần trước cửa. Và cũng từ lúc ấy, giá còi hào bao tăng vọt nghe đâu chế biến xong từ 80.000đ – 100.000đ/kg.
Trần Ngọc Sáu – Tuần Du lịch – Số 39(91) 27/9 -4/10/1999

Các nhà kinh doanh cần biết

Người đặt nền móng đầu tiên cho hoạt động kinh doanh lữ hành hiện đại: Ông Thomas Cook
Trong giới kinh doanh lữ hành và tất cả những ai yêu thích, quan tâm đến du lịch đều biết đến Thomas Cook như người khai sinh ra hoạt động kinh doanh lữ hành trên thế giới. Để giúp bạn đọc tìm hiểu thêm về Thomas Cook chúng tôi xin đề cập dưới đây lịch sử về ông và hoạt động kinh doanh lữ hành của hãng lữ hành ông sáng lập.
Thomas Cook là người đã phát minh ra: – giá vé đoàn – Tour du lịch trọn gói (package) – Tiết kiệm tiền cho mục đích du lịch – Xuất bản cuốn “Excursionist” – Vé đường sắt quốc tế – “Circular Notes” (tương tự như một thư tín dụng) – “Hotel Coupon” (hóa đơn đầu tiên)
Thomas Cook sinh năm 1808 ở miền Trung nước Anh. Nghề nghiệp đầu tiên của ông là một nhà làm vườn, sau đó trở thành thợ mộc. Năm 1841 ông mở một hoạt động kinh doanh mới. Ông đã tổ chức chuyến đi cho 570 người tới dự một hội nghị của những người bày rượu trên một chiếc tàu được thuê từ Leicester tới Longborough dưới hình thức một tour hướng dẫn. Khoảng cách đoạn đường này là 35 km. Ông đã ký hợp đồng riêng với một công ty đường sắt tư nhân với chi phí thuê được tính bằng một nửa giá vé thông thường.
Hãng lữ hành Leicester ra đời
Nhiều phát minh đã được doanh nghiệp “Cook” phát kiến ra trong chuyến đi: từ giá vé đoàn trọn gói tới chuyên bay thuê bao. Năm 1845, ông mở một hãng lữ hành ở Leicester. Doanh nghiệp này đã được coi là hãng lữ hành đầu tiên theo nghĩa hiện đại. Bí quyết kinh doanh của Cook là du lịch rẻ sẽ đẩy con người tránh xa các quán rượu rẻ tiền. Trong thời gian đầu, ông đã tổ chức một loạt các chuyến đi tới các điểm du lịch lý thú ở Anh và Scotland. Ông đã viết sách hướng dẫn du lịch cho du khách và ký các hợp đồng trọn gói phục vụ các chuyến viếng thăm tới các lâu đài lịch sử. Năm 1850, ông xuất bản cuốn “Excursionist”. Đó là sự kết hợp các bài viết về các chuyến đi và các yếu tố của 1 catalogue (bản liệt kê) dành cho khách hàng của mình. Năm 1851, ông đã tổ chức chuyến đi cho 165.000 du khách tới hội chợ thế giới tại Luân Đôn. Nhân sự kiện đó ông đã tuyên truyền ý tưởng tiết kiệm tiền cho mục đích du lịch và nghỉ ngơi.
Hãng lữ hành đã tổ chức các tour du lịch tới lục địa châu u và tour du lịch văn hóa cho giới trẻ, tour du lịch tắm biển tới các làng ven biển của Anh, kết hợp các dịch vụ khách nhau phục vụ cho các chuyến đi tới Luân Đôn và làng mạc, thành phố lý thú của Anh. Tiếp theo là tổ chức du lịch đến các điểm trên lục địa như Thụy Sĩ từ năm 1862. Nhiều người đã nói: các chuyến du lịch do Cook tổ chức là một trong những lý do thúc đẩy sự phát triển du lịch nhanh chóng ở đất nước này, Italia và gần như tới tất cả các thủ đô của châu u, chủ yếu tới Paris. Ông đã tổ chức các tour trọn gói cho nên 2000 người tới tham dự hội chợ thế giới Paris lần thứ nhất.
Hãng lữ hành mang tên mới Thomas Cookandson
Năm 1865, ông rời Luân Đôn và ít lâu sau ông đã bố trí cho con trai là John Mason Cook vào làm trong doanh nghiệp của mình. Từ đó hãng lữ hành của ông mang tên: “Thomas Cook & Son”. John Mason Cook thậm chí đã trở thành một nhà kinh doanh tài ba hơn. Minh chứng rõ nhất là danh sách các điểm đến sau khi hợp nhất: năm 1869, các tour đầu tiên được tổ chức tới các điểm du lịch ở Palestin (Holi Grave) và Ai Cập (Cai Rô, Kim tự tháp, đi thuyền buồm trên sông Nile, thung lũng Vua, Luxor…) và sau đó là các chuyến du lịch tới Trung Đông (ông đã thuê lạc đà của thổ dân để tạo điều kiện đi lại dễ dàng hơn cho du khách khi rời tàu tới điểm du lịch), cũng như tới các quốc gia châu Phi và Hoa Kỳ. Năm 1872, “Cook” đã tổ chức tour du lịch đầu tiên vòng quanh thế giới kết quả là mang lại tiếng tăm lớn cho cuốn sách của Jules Verne “80 ngày vòng quanh thế giới”. Khi Thomas Cook mất năm 1992, doanh nghiệp của ông đã có các chi nhánh ở gần như tất cả các thành phố lớn của châu u, Bắc Mỹ, Cận Đông, Nam và Đông Nam Á, Úc.
Năm 1927 doanh nghiệp “Cook” đã tổ chức một chuyến bay thuê bao (Charter flight) đầu tiên cho du khách từ Niu Yoóc tới Chicago để tham dự trận đám bốc giữa Dempsey và Tunney. Trong thời kỳ sau thế chiến thứ II, doanh nghiệp này gặp nhiều trở ngại nhưng doanh nghiệp Thomas Cook ngày nay gần như là một hãng lữ hành hoạt động khắp thế giới (chủ yếu ở Anh quốc và khối thịnh vượng chung). Nó là chủ sở hữu hoặc tham gia vào nhiều doanh nghiệp khác. Nó cũng có hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng và trong các công ty bảo hiểm.
Lời kết
Là doanh nghiệp đã từng tổ chức các chuyến đi cho các giáo hoàng, các vua chúa và những nhân vật quyền quí cũng như vận chuyển đồ vật quý giá và mạo hiểm, tổ chức cho các nhà du lịch mạo hiểm như: đắm mình trong mùa xuân trên sông Nile, săn hổ trên mình voi ở Ấn Độ, các tour đi bộ và leo núi ở Himalaya…Ngay sau câu nói nổi tiếng “một bước nhỏ của tôi nhưng là một bước lớn cho nhân loại” xuất hiện năm 1969, có khoảng 30 tour lựa chọn đã được thu xếp cho chuyến thám hiểm đầu tiên lên mặt trăng. John Mason đã từng nói “ không có một nơi nào trên thế giới bạn không thể đi tới với Thomas Cook and Son”.
Mùa thu năm 1992, tập đoàn Đức “LTU” (Luft Transport Unternehmen) là một tập đoàn của hầu hết các doanh nghiệp có liên quan đến hoạt động du lịch đã mua hãng ”Thomas Cook” cùng với tất cả 1600 văn phòng ở 120 nước và 10400 nhân viên. Dù hiện này không còn doanh nghiệp “Thomas Cook” độc lập nhưng lịch sử hoạt động kinh doanh lữ hành trên thế giới mãi ghi nhận Thomas Cook là người đầu tiên đặt nền móng cho hoạt động kinh doanh lữ hành hiện đại.
Mỹ Đức – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

Đền Cát Bà không thể không đến làng cổ Việt Hải

Ngồi trong nhà ăn Nam Phương ở phố huyện du lịch Cát Bà, tên gọi làng Việt Hải bỗng vang lên trong tôi. Một làng lần đầu tiên tôi được biết tới trên sơ đồ hướng dẫn du lịch, hẻo lánh, xa xôi, có thể đến được bằng hai đường núi và biển. Tiền túi tôi không nhiều. Nhưng quyết thuê một chuyến thuyền riêng hai trăm ngàn đồng cho chuyến du ngoạn trên vịnh Lan Hạ mà điểm cuối cùng là làng Việt Hải. Phải trải qua không biết bao nhiêu ngóc ngách trên vịnh, rẽ ngang, rẽ dọc, luồn lách giữa các khe núi, lượn trước không biết bao nhiêu bãi cát. Có bãi từng đoàn khách nước ngoài và trong nước đi thuyền tới đây tắm. Nước trong vắt. Cát mịn màng vàng tươi trước nắng. Các chị người nước ngoài từ xa tới khỏa nước nhịp nhàng. Gần ba tiếng đồng hồ từ lúc rời phố huyện thuyền chúng tôi cập bến trong cái vịnh nhỏ xíu. Lên bờ. Đi bộ qua hang Luồn mát lạnh và dài và chục mét. Đi mãi. Chừng gần một giờ đồng hồ thung lũng bằng phẳng hiện ra. Thiên nhiên kỳ ảo. Giữa núi non trùng điệp và rừng cây, trời đất nặn ra một bãi bằng dài chừng non hai cây số và rộng vài ba trăm mét, với những mảnh ruộng liền bờ, những con trâu đeo mõ, những người nông dân làm lụng cần cù. Làng ở bên kia thung lũng. Con đường du lịch cắt ngang cánh đồng.
Việt Hải là làng và cũng là xã, có 40 hộ gia đình với hơn 200 nhân khẩu. Diện tích của làng năm trong diện tích 13.200 ha của khu vườn cấm quốc gia. Nhìn ra chung quanh núi đá dăng thành sắc cạnh và những cánh rừng xen kẽ tôi cứ không hiểu sao con người đầu tiên của làng tới nơi đây. Mọi người đều mến khách. Nhà nhà đều có bàn và ghế nhựa kê dưới gốc cây, hoặc dưới bạt che nắng, hoặc trong nhà đón đợi các đoàn du lịch mà hầu hết là người nước ngoài từ trong núi ra, phía hồ Ếch đổ xuống. Riêng chúng tôi ngược từ dưới vịnh lên lại vào buổi sáng nên du khách nước ngoài chưa kịp tới. Mấy anh em ngồi dưới gốc cây mít già nghe ông chủ nhà Bùi Danh Soi kể chuyện:
Theo tôi biết thì làng hình thành từ những năm 1945 – 1946. Lúc đó chỉ có 12 gia đình ở Cái Dam chạy Tây ra sinh sống. Khi Chính phủ ta thành lập khu Hà Sen thì chẳng hiểu thằng Tây dọa dẫm xui dục thế nào những gia đình Hoa kiều kia lại trở về Cái Dăm.
Ông Soi say sưa nói tiếp:
Tôi cũng theo cha mẹ ra đây từ năm 1946. Chạy Tây mà lại. Có những gia đình từ Hải Phòng, Nam Định, Hải Dương tới. Làng được hình thành. Pháp không dám đánh vào. Dân quân du kích gác ở cửa rừng phía hồ Ếch đổ xuống và cửa Luồn phía vịnh Lan Hạ lên. Hang lúc bấy giờ bé tý. Một người luồn lách qua lại. Người này trót lọt, người khác mới ngoi tiếp. Mấy năm na mở to cho khách du lịch đi về.
Chúng tôi hỏi:
Nhà ông khách du lịch nước ngoài hay tới không ?
Ngày nào cũng có. Nhưng thường là từ một hai giờ chiều. Đa phần họ từ phía vườn quốc gia trên hồ Ếch xuống. Họ dừng lại nghỉ ngơi. Ăn uống. Rồi cõng những chiếc ba lô to xù xụ đi về phía vịnh. Thuyền đợi họ ở đó.
Làng cổ Việt Hải giờ đây đang hấp dẫn khách du lịch bởi chính sự bình yên và ấm áp của mình.
Tiếu lâm trên đường
Biết cầu nguyện
Một chiếc tàu du lịch chẳng may gặp nạn. Thuyền sắp chìm đến nơi. Thuyền trưởng lớn tiếng hỏi:
“Ai biết cầu nguyện không ?”
“Tôi biết” – một người lập tức trả lời
“Rất tốt, anh hãy cầu nguyện cho mình đi” – Thuyền turởng nói: – “Còn những người khác thì mặc áo cứu sinh vào. Áo cứu vừa vặn thiếu một chiếc”.
Gọi bố đến
Ở một vườn cây ăn quả dành cho khách du lịch, người bảo vệ đang đi tuần bỗng phát hiện ở dưới gốc táo có một đứa bé thổ dân ở đây.
“Thằng nhỏ”, anh ta nói – “Tao sẽ đi gọi bố mày đến”. Tức thì thằng bé ngửa đầu lên trên cây gọi.
“Bố ơi, có một chú muốn gặp bố này”.
Tinh thông các ngoại ngữ
Thượng đế là người tinh thông các ngoại ngữ.
Sao anh lại nói thế ?
Anh không thấy mọi người các nước đều dùng ngôn ngữ của nước mình để cầu nguyện đó sao.
Giống nhau
Trong một tua du lịch
Người ngồi ở đằng kia xấu xí quá, anh bạn nhỉ !
Đó là anh trai tôi.
Ồ, xin lỗi nhé, tôi không biết anh giống anh trai đến vậy.
Thanh Hương
Thời trang hè thu ‘99
Có gì đặc biệt trong thời trang hè thu năm nay ? Các nhà mốt danh tiếng Versace, Christian Dior, Chanel, Valentino, Givenchy… đã tung ra những tác phẩm độc chiêu của mình. Mỗi nhà có một phong cách riêng làm nên sự đa dạng cho mùa mốt này. Xin giới thiệu để bạn tham khảo.
Tuyết Anh-Du lịch-Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-33(85)-1999

Hà Nội khắc phục sự cố ứ đọng rác

Trong các ngày 11 đến 14-9-1999, trên nhiều đường phố, điểm dân cư, nơi công cộng ở thủ đô Hà Nội, du khách được chứng kiến những đống rác được chất đống nằm ứ đọng chưa từng thấy. Nguyên nhân do khu xử lý rác chính của thành phố ở xã Nam Sơn, huyện Sóc Sơn bị ngừng hoạt động. Ngay từ ngày 13-9 lãnh đạo thành phố đã trực tiếp chỉ đạo Công ty Môi trường Đô thị khẩn trương khắc phục sự cố: mở thêm những điểm chứa rác thải phụ ở Gia Lâm, Từ Liêm; phối hợp với các địa phương tìm biện pháp tiếp tục duy trì điểm chứa rác chính ở Sóc Sơn. Đến ngày 16-9, sau nhiều cố gắng nỗ lực liên tục ngày đêm của cán bộ công nhân viên Công ty Môi trường Đô thị Hà Nội, phần lớn số rác ứ đọng đã được chuyển dần ra khỏi nội thành, trả lại cảnh quan sạch đẹp cho đường phố Thủ đô.
Từ sự cố này, chắc chắn chính quyền thành phố mà trực tiếp là Công ty Môi trường Đô thị Hà Nội đã rút ra được bài học cần thiết về sự chuẩn bị những phương án dự phòng như: mở thêm các địa điểm, phương tiện, nhân lực kịp thời giải quyết những tình huống như đã xảy ra.
Tin thế giới
Hồng Kông: Hàng giả tràn lên máy bay
Dư luận hành khách trên máy bay của hãng hàng không British Airways phàn nàn về tình trạng mua phải hàng giả sản xuất ở Hồng Kông khi các nhân viên hang này bán cho họ. Những mặt hàng giả này được các nhân viên quảng cáo thành những loại nổi tiếng đắt tiền và thuộc diện hàng miễn thuế, như đồng hồ đeo tay Raymond Weil, túi xách, kính dâm Gucci, nước hoa Chanel được bán với giá cao. Nhưng thực ra là những loại hàng “rởm”. Hãng hàng không Anh đã thừa nhận có hiện tượng này nhưng không cho biết thêm chi tiết. Trước tình trạng trên, các hãng hàng không hoạt động ở Hồng Kông như Cathay Pacific đều lên tiếng đảm bảo với hành khách sẽ áp dụng biện pháp nghiêm ngặt ngăn chặn tình trạng tiếp viên bán hàng miễn thuế giả mạo cho hành khách trên các tuyến bay của hãng.
Du lịch Philippines hợp tác với hàng không Singapore
Tổng cục du lịch Philippines đã ký thoả thuận với hãng hàng không Singapore (SIA) về một chương trình khuyến khích du lịch chung. Theo thoả thuận này, SIA sẽ chi 1 triệu USD để tiến hành chiến dịch thu hút du khách tại Châu u, Australia và Singapore đến Philippines. Đổi lại, SIA được quyền tăng chuyến và giảm thuế đến Philippines. Theo SIA, vấn đề chủ yếu làm giảm sức hút du khách đến Philippines là vấn đề chuyên chở đường không, vì ngoài đường không, không còn đường nào khác đưa du khách tới quần đảo này. Còn ngành hàng hải của Philippines chưa đủ khả năng để làm du khách yên tâm.
Trung Quốc khánh thành đường hầm dài 18.5 km
Trung Quốc vừa khánh thành và đưavào sử dụng đường hầm dài nhất nước này xuyên qua dãy tần Lĩnh tại tỉnh Thiểm Tây. Đường hầm dài 18,5km nối liền cố đô Tây An, một trung tâm du lịch lớn của trung Quốc với khu vực An Khương về phía Nam. Đường hầm có hệ thống đường sắt hai chiều song song. Với việc đưa đường hầm này vào hoạt động, việc đi lại từ Tây An tới An Khương giảm từ 18 giờ xuống còn 3 giờ.
N.C – Tuần Du lịch – Số 38(90) 20 -27/9/1999

Pò Chài – gỗ mỹ nghệ và gái kỹ nghệ – Phần 3

Đấy là thiên đường của tệ nạn mà khách mua dâm hành lạc. Mặc dù người Việt Nam có rất nhiều ở đây nhưng khách mua dâm lại chủ yếu là người Trung Quốc. Họ thường là những ông chủ mua hàng đồ mỹ nghệ của người Việt. Có một ông chủ như thế được người Việt ở đây phong cho cái tên: “trưởng bản” vì tối nào cũng vậy họ đều thấy ông tay dắt một cô cave người Việt đi dạo quanh những âm thanh hắt ra từ những màn hình to tướng dọc theo hai bên đường. Mỗi cô gái ngủ qua đêm với khách, khách sẽ phải trả lại chủ 100 đồng nhân dân tệ (tương đương với 160.000 đồng Việt Nam). Tất nhiên giá này có thể co giãn. Ngay cạnh gian hàng tôi ở trọ là một hiệu uốn tóc. Bà chủ này về hình thức thì như nông dân không hơn, không kém, chẳng có gì là sắc sảo cả. Điều này hoàn toàn trái ngược với những nhà hàng, khách sạn nào đó mà tôi đã gặp ở Việt Nam bởi lẽ những bà chủ ấy phải mặt thật “tú bà”, là kẻ biết lườm nguýt và chiều lòng khách đúng chỗ, đúng lúc để đưa đẩy được “hàng” của mình. Điều đáng nói là ở đây có rất nhiều (cả những “tú ông”) tuổi đã ngoài 60 (đều là người Việt) như bà ta, cai quản đến 4 – 5 đứa “con, cháu” hành nghề. Với những dịch vụ mại dâm ở đây việc tiếp xúc và lấy thông tin không hề khó, khách có thể đá vào chơi, uống một chén nước, hát một bài, trêu năm, ba câu các em theo kiểu người nhà, không thích thì lại ra. Vì thế ở đây tôi còn được tiếp xúc với khái niệm “hàng quay” của một ông chủ nọ thuê ở số nhà A37. Ông ta cho hay “hàng quay” là “hàng” bị bệnh qua những đợt kiểm tra dịch tễ của công an Trung Quốc với gái mại dâm Việt Nam từ tận sâu trong lục địa. Cứ cuối năm là lại có đến vài xe ô tô, mỗi xe có khoảng 40 – 50 cô gái Việt Nam bị mắc bệnh đưa ra vùng biên giới gần cửa khẩu này và “đổ hàng” tại đó.
…Những ngày sang bên kia cửa khẩu Tân Thanh đã hết, tôi háo hức trở về quê hương đem theo những suy nghĩ về cuộc sống nơi bên kia cửa khẩu. Có lẽ một điều gì đó thật may mắn cho những dân làng nghề như ở Đồng Kỵ đã sống được bằng chính tay nghề, bằng sự bôn ba của mình, nhưng cũng có cái để mà day dứt đấy chứ? Bởi tôi biết rằng trong vùng sâu lục địa kia, nạn mại dâm không có cơ hội tồn tại. Vậy mà nơi đây không có cơ hội tồn tại. Vậy mà nơi đây vẫn nhởn nhơ những cave người Việt. Dù thương hay giận thì chính họ đang làm tổn hại đến uy tín, danh dự của đất nước, của mỗi người Việt Nam mỗi khi đặt chân sang đất bạn…
Tân Thanh 8/1999
Nguyễn Ngọc Quỳnh-Tuần Du lịch-Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-33(85)-1999

Pò Chài – gỗ mỹ nghệ và gái kỹ nghệ – Phần 2

Tuy nhiên đã gọi là buôn bán thì cũng khó lường hết được những khó khăn. Có tới khoảng vài chục người bị bọn giả là chủ nhân của căn hộ mà người Việt Nam muốn thuê để lừa gạt họ. Chúng cứ đứng ra vỗ ngực là của mình và cho người Việt Nam thuê. Người phiên dịch lại là người của Trung Quốc nên người Việt chỉ biết hy vọng vào sự trung thực và hiểu biết của người phiên dịch mà thôi. Có khi sáng cho thuê chiều lại có kẻ khác đến nói rằng: “Đây là nhà của tao” bằng một thứ tiếng Việt ngọng ngịu và nặng chịch. Mặc dù giấy tờ hợp đồng thuê trước đó đã có cả, những lạ thay kẻ mới đến này cũng có giấy tờ hẳn hoi nữa. Chúng cứ thuyết phục ở chỗ là giấy chủ sở hữu của họ bằng một tấm bằng to (20 x 30 cm) có dán ảnh của người chủ sở hữu ấy do phía Trung Quốc cấp. Lúc này người Việt mới ngã ngửa ra là mình đã bị “chủ nhà” trước lừa và muốn thuê nữa lại phải bỏ cả chục triệu ra mà vẫn còn lo ngay ngáy.
Và nhức nhối một thứ hàng xuất biên khác
Sang đến Pò Chài mà lại không nói về một thứ hàng dịch vụ thì quả là đã thiếu một nửa. Đó là thứ dịch vụ mại dâm. 100% những cửa hiệu: “Tại đây uốn tóc” và “karaoke” đều là dịch vụ mại dâm với 100% gái hành nghề là các cô gái Việt Nam. Họ tới từ đủ các địa phương: Bắc Thái, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Hà Tây, Ninh Bình… Hoạt động mại dâm ở Pò Chài hoàn toàn được bỏ ngỏ, mặc sức kinh doanh, những cô gái Việt Nam với nhiều lứa tuổi từ 15, 20 thậm chí đến 35… cứ nhan nhản, xanh xanh đỏ đỏ, váy ngắn, váy dài thản nhiên ra vào ngồi chờ câu khách. Không kể ngày hay đêm miễn là khách có nhu cầu là có thể đáp ứng được ngay. Tôi hỏi anh Tuyền dân lái xe chuyên nghiệp từ Việt Nam không ngày nào không có mặt ở đây: “những cô gái này có phải là những cô gái bị lừa gạt sang đây không?”, anh trả lời rằng “không” và lập luận rằng” nếu là những người bị lừa gạt thì không bao giờ lại được ở gần biên cả, vì rất có thể dễ dàng trốn thoát. Hơn nữa anh thấy đấy những cave ở đây thản nhiên đi lại chứ có bị gò ép gì đâu thỉnh thoảng còn thấy họ vui đùa đuổi nhau chạy khắp ấy chứ”. Mỗi một cửa hiệu uốn tóc hay karaoke có ít nhất từ 3 đến 4 cô, nhiều có thể có hơn 10 cô. Những cửa hàng cửa hiệu loại này thường nằm san sát nhau thành một dãy dài, cũng có khi nằm xen kẽ với dân bán đồ mỹ nghệ. Theo ước tính số những cửa hàng này như thế có khoảng gần 100 và con số gái mại dâm lên đến vài trăm người là điều chắc chắn. Ban ngày cũng có, nhưng chủ yếu vẫn là họt động về đêm. Một căn gác hai thường được chia làm nhiều phòng, mỗi phòng được ngăn bằng những tấm gỗ dán mỏng.
Nguyễn Ngọc Quỳnh-Tuần Du lịch-Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-33(85)-1999