Tăng thêm đôi tàu trên tuyến Bắc Nam

Từ ngày 24/5, Tổng Công ty đường sắt Việt Nam sẽ cho tăng thêm một đôi tàu Thống Nhất chạy tuyến Bắc Nam mang số hiệu S1B/S2B và thay đổi giờ tàu chạy ở một số địa phương: tàu SN1 khởi hành từ Nha Trang lúc 17h46 và đến thành phố Hồ Chí Minh lúc 4h ngày hôm sau, tàu SV2 khởi hành từ thành phố Hồ Chí Minh lúc 18h10 và đến Nha Trang lúc 4h10, tàu Đ1 khởi hành tại Đà Nẵng lúc 6h30 và đến thành phố Hồ Chí Minh lúc 6h30 hôm sau, tàu Đ2 khởi hành tại thành phố Hồ Chí Minh lúc 10h45 và đến Đà Nẵng lúc 10h44 hôm sau.

Đọc tiếp Tăng thêm đôi tàu trên tuyến Bắc Nam

Treo bộ khung ảnh như thế nào cho đẹp

Bạn có những khung tranh, khung ảnh là hình ảnh của gia đình, người thân đẹp mắt lưu giữ kỉ niệm nhưng chưa biết treo lên tường như thế nào cho đẹp? Hãy thử tham khảo ý tưởng dưới đây để biến ngôi nhà của bạn trở nên đẹp hơn với những bộ khung ảnh treo tường đẹp mắt nhé!

Đọc tiếp Treo bộ khung ảnh như thế nào cho đẹp

Du lịch buôn đôn đánh thức một vùng quê

Từ Thành phố Buôn Ma Thuột, theo tỉnh lộ 1 mới được sửa sang và nâng cấp đi về hướng Tây chừng 40 cây số, Buôn Đôn hiện ra trong mắt du khách mỗi lúc một trù phú, ấm no hơn. Ngày nay, đến Buôn Đôn ta có thể thấy đời sống của bà con dân tộc ít người nơi đây đã khá lên nhiều nhờ mở ra các dịch vụ du lịch phục vụ nhu cầu đa dạng của du khách. Chỉ tính sơ mỗi việc các công ty du lịch thuê voi nhà của đồng bào cho khách dạo chơi không thôi, mỗi tháng đem lại thu nhập cho mỗi hộ có một đầu voi không dưới một triệu đồng. Ở Buôn Đôn hiện có 14 đầu voi chuyên đưa đón khách du lịch, tính ra hàng tháng thu được ít nhất 14 triệu đồng. Cụ Ama Nia, Ama Lăng, anh Y Thế Y Lư đều nói rằng: “Nếu không có tour du lịch Buôn Đôn thì voi cũng chỉ thả rông trong rừng mà thôi, chứ không biết làm gì?”. Điều đáng nói hơn là nhờ tham gia các hoạt đọng du lịch mà đàn voi nhà ở đây được đồng bào chăm nom chu đáo hơn. Cụ Ama Nia tâm sự: “Mấy năm trước tao định bán voi để mùa trâu, bò về cày kéo nhưng rồi thấy tiếc. Tiếc bởi vì con voi đối với đồng bào Eđe, M’Nông được coi như thành viên thân thuộc của cộng đồng. Hơn nữa đén những dịp lễ hội mà không có nó thì buồn lắm. Bán đi rồi lấy gì mà đuôi voi, lấy gì mà vượt sông Serepoc? Nay nhờ các công ty du lịch thuê, nên giải quyết được trọn vẹn cả đôi đường. Vừa giữ được voi, vừa sống được nhờ nó”. Phải nói rằng, tour du lịch Buôn Đôn đã thực sự thúc đẩy hết thảy mọi ngành nghề ở đây phát triển. Cách đây từ 3 năm đến 4 năm, đồng bào ở các xã Krông Na, Ea Hoa… và cư dân quanh vùng không biết phải làm gì thêm ngoài việc trồng lúa, ngô… hoặc lén lút vào Vườn quốc gia Yok Đôn khai thác lâm sản trái phép. Còn ngày nay bà con nơi đây đã biết kinh doanh nhiều mặt hàng như đồ mỹ nghệ, hàng thổ cẩm, nông sản và hoa quả… Buôn Đôn giờ đây tấp nập như một khu phố giữa rừng. Nhiều hộ kinh doanh ở đây cho biết: cứ mùa nào thức ăn ấy, cá lăng tháng bảy, lúa nếp tháng ba cùng nhiều loại cây trái như xoài, chuối, bưởi me… quanh năm được các công ty du lịch thu mua hết. Ấy là chưa kể còn bán lẻ được rất nhiều cho khách tham quan. Theo lời ông Y Ka Bya chủ tịch xã Krông Na, nhờ các tour du lịch mở ra ngày càng hấp dẫn, phong phú cùng nhiều dịch vụ kèm theo đã thúc đẩy người dân địa phương tập trung sản xuất theo hướng hàng hóa và quy mô hơn. Chẳng hạn như Ma Sới, Y Thế ở buôn Trí đã đầu tư xây dựng chuồng trại bài bản để nuôi hàng trăm con gà. Ngoài ra, mỗi người đang có trong tay 1 héc ta xoài cao sản, sắp sửa cho thu hoạch. Những hộ nông dân khác như ông Tùng, ông Hợp ở Ea Hoa cũng đã thấy được hướng phát triển của ngành du lịch Buôn Đôn nên yên tâm dốc sức làm hàng chục héc ta vườn cây ăn trái và ruộng nếp thuần chủng để bán cho các công ty du lịch làm rượu cần phục vụ du khách. Có thể nói ngoài việc cho điều kiện cho hàng trăm hộ nông dân người E đê, Jrai… sống quần tụ dọc sông Sê – rê – pốc vươn lên thoát cảnh đói nghèo, hoạt động du lịch ở đây đã góp phần giải quyết công ăn, việc làm cho nhiều người dân địa phương, nhất là lực lượng lao động trẻ ở nông thôn. Không kể đội ngũ khá đông đảo con em đồng bào dân tộc thiểu số được nhận vào làm các dịch vụ thuyết minh, giới thiệu vốn văn hóa văn nghệ truyền thống, diễn tấu cồng chiêng, múa hát, làm hướng dẫn viên du lịch… thì nhiều gia đình ở đây còn có thêm việc làm và thu nhập từ nghề dệt thổ cẩm, làm rượu cần, nấu cơm lam cũng như cho du khách thuê nhà sàn để nghỉ ngơi hàng đêm. Tết quý Mùi 2003 này, các công ty du lịch ở Buôn Đôn đang mở rộng và khai thác thêm nhiều sản phẩm du lịch độc đáo dựa trên vốn văn hóa đặc sắc của các dân tộc bản địa và tiềm năng sinh thái đặc thù của vùng đất nổi tiếng về nghề săn bắt thuần dưỡng voi đầy huyền thoại này.
Tấn Nguyên-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 3(272)2003.

Phát triển tính nhân văn trong du lịch

Du lịch là nhu cầu hưởng thụ của con người, nhu cầu này hết sức đa dạng và luôn thay đổi. Người ta ít khi đi du lịch nhiều lần đến một nơi nào đó nếu họ biết rằng sẽ không có gì lạ so với lần thăm trước. Vì thế lượng du khách nước ngoài vào Việt Nam sẽ không tăng nhanh nếu các nhà làm du lịch không biết khai thác các loại hình du lịch mới như du lịch sinh thái, khám phá, mạo hiểm… theo chiều sâu. Điều quan trọng là chúng ta cần phải biết kết hợp đưa những yếu tố nhân văn vào trong tour du lịch như thế nào cho hiệu quả? Người ta dễ định hướng việc nâng cao chất lượng du lịch đối với mọi đối tượng bằng các cơ sở vật chất và dịch vụ như phương tiện đi lại, môi trường sinh thái, ẩm thực… Nhưng đối với nhu cầu tinh thần thì không phải dễ bởi nhu cầu của khách nước ngoài rất là đa dạng và khác nhau tùy theo vùng địa văn hóa và châu lục như châu Á, châu u, châu Mỹ, châu Phi… vùng sinh thái nhiệt đới, ôn đới, hàn đới…, tôn giáo như Hồi giáo, Kito giáo, phật giáo, Ấn Độ giáo… và trình độ văn hóa của từng đối tượng khách. Tuy nhiên chúng lại có một điểm chung là cùng nhu cầu tìm hiểu đời sống văn hóa tinh thần vật chất, phong tục, tập quán, cuộc sống lao động và lòng hiếu khách của các nền văn hóa khác nhau. Nhiều khách nước ngoài đã phát biểu rằng, những chuyến tham quan miệt vườn Đồng bằng Sông Cửu Long đã để lại cho họ ấn tượng đẹp và khó quên hơn cảnh phồn hoa nhờ vẻ chất phác hồn hậu của người nông dân miệt vườn. Phải chăng yếu tố nhân văn đã ngày càng trở thành nhu cầu thiết yếu của du khách? Có thể nhận định trên chưa đúng với mọi đối tượng khách du lịch nước ngoài, nhưng cũng đến lúc phải quan tâm phát triển tính nhân văn theo chiều sâu trong ngành du lịch. Tâm lý chung của khách du lịch đến từ các nước công nghiệp phát triển là để giảm bớt stress của cuộc sống hiện đại. Họ thường tìm về sự thuần phác nguyên sơ của thiên nhiên lẫn quan hệ con người. Trong thú ăn uống cũng vậy ngày nay những người sành điệu vào nhà hàng lại kêu các món đồng quê, dân dã rau muốn, bông bí, dưa bồn bồn để thưởng thức. Ở nhiều vùng nông thôn xa đô thị nếu biết khai thác hợp lý, nét truyền thống văn hóa, sự chân thật, và lòng hiếu khách là những tiềm năng du lịch quý báu. Trên thực tế ta đã khai thác một số loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian như lễ hội, dân ca, trang phục dân tộc… nhưng chưa tập trung vào lối sống đời thường của nhân dân. Ví dụ thiết kế cuộc viếng thăm xóm nhỏ vào một buổi chiều khi mọi người từ đồng trở về, du khách có thể cảm nhận được không khí đầm ấm của bữa cơm ở một gia đình nông dân đi thăm làng nghề thủ công truyền thống, xem cảnh hái dừa, biết giăng câu, đặt lợp, bắt lươn, bắt rắn, lấy ngó sen, bẫy chim, bẫy thú… Nếu có thêm sự diễn giải của các chuyên gia dân tộc học thì sức cuốn hút của các tour về nông thôn này không chỉ hấp dẫn với du khách nước ngoài mà cả với du khách trong nước. Thị trường du lịch ngày càng cạnh tranh gay gắt, nếu không cho ra những sản phẩm mới độc đáo mà chỉ chạy theo sự nâng cấp tiện nghi vật chất sẽ khó theo kịp với các nước trong khu vực vốn đã có sẵn cơ sở và vốn đầu tư khổng lồ. Phát triển du lịch theo hướng nhân văn cũng chính là góp phần giới thiệu và làm phong phú thêm bản sắc dân tộc Việt Nam.
Nguyễn Hữu Nguyên-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 3(272)2003.

Ẩm thực từ thịt dê

Ngày xuân bên cạnh các món ăn cổ truyền, người Việt Nam còn chú ý đến khẩu phần thực dưỡng nhằm giữ gìn sức khỏe tốt. Chào đón năm Quý Mùi, xin gợi ý một số món ăn chế biến từ thịt dê vừa bổ dưỡng vừa dùng để chữa trị các căn bệnh thông thường. Cháo xương con dê: Nguyên liệu gồm có xương con dê 1 kg, gạo tẻ cần 100 gam. Rửa sạch, chặt khúc đập dập xương con dê sau đó đổ nước vào hầm rồi dùng nước đó nấu cháo. Thêm muối, hành trước khi nhắc xuống. Ăn vào buổi sáng và tối. công dụng làm khỏe tùy vị, bổ máu.
Canh thịt dê nấu thuốc bắc: Nguyên liệu hoài sơn dược 50 gam, nhục thung dung là 20 gram dây tơ hồng là 10 gram, nhân hạc đào 2 trái, thịt dê 500 gram, tủy con dê 1 cái, gạo tẻ 100 gram. Tủy đê rửa sạch, thịt con dê cắt nhỏ. Cho vị thuốc Bắc vào trong 1 cái túi vải, gừng và hành giã nát. Cho tất cả vào nồi nấu cháo, để lửa lớn, hớt bọt cho nước trong. Nêm gia vị đun cháo lửa nhỏ liu riu. Công dụng ôn thận bổ dưỡng.
Cẩu kỷ chưng óc dê: Nguyên liệu gồm cẩu kỷ 50 gram óc con dê 1 cái. Cẩu kỷ, óc con dê rửa sạch lấy gân máu rồi cho vào nồi, đổ vào một lượng nước sạch vừa đủ, cho muối – rượu – hành – gừng rồi chưng cách thủy cho đến khi chín. Ăn cùng với cơm. Công dụng: bổ não, an thần. Canh thịt con dê: Thịt con dê 1 nghìn gram, bột đại mạch 100 gram, bột đậu 1 nghìn gram, thảo quả 5 trái, gừng tiêu, giã nát gừng và thảo quả. Thịt con dê cắt nhỏ, cho tất cả vào nồi. Để lửa lớn rồi hạ lửa nhỏ dần. Chờ khi thịt chín rồi mới bỏ hai thứ bột vào nấu cho chín hẳn, nêm gia vị, ăn vào các bữa chính. Công dụng thông mạch cắt cơn đau.
Thịt dê xào Đang quy: thịt con dê mỡ 500 gram, Đang quy sinh đạ mỗi thứ 15 gram, gừng, rượu, đường vàng. Thịt con dê cắt khúc rồi xào chung với Đang quy, sinh địa, gừng khô, gia vị rượu, nước trên lửa nhỏ. Khi ăn chỉ cọn gắp thịt con dê, không ăn các thứ thuốc khác. Công dụng bổ huyết ngưng chảy máu.
Canh đang quy, gừng thịt con dê: Đang quy, gừng 50 gram, thịt con dê 1 nghìn gram cắt khúc. Cho Đang quy, gừng vào túi vải sạch buộc chặt. Cho tất cả vào nồi hầm kỹ cho thịt mềm. để món ăn thêm ngon và thơm, cho bột vỏ quế và tiêu vào. Dùng trong bữa ăn chính, nên uống nước canh và ăn thịt con dê. Công dụng tăng cường khí huyết, dưỡng thai. Các vị thuốc Bắc, gia vị cho món ăn mua ở chợ hoặc các tiệm thuốc Bắc.
Nguyễn Thị Hồng Phương-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 3(272)2003.

Báo du lịch công cụ để phát triển ngành du lịch.

Báo du lịch trong những năm qua đã thật sự làm chiếc cầu nối nhằm chuyển tải những chủ trương, chính sách của Đảng, nhà nước và của ngành đến với bạn đọc và các doanh nghiệp du lịch trong cả nước. Nhân kỷ niệm 5 năm ngày thành lập Báo Du lịch từ ngày 5 tháng 1 năm 1998 đến ngày 5 tháng 1 năm 2003. Phóng viên Báo Du lịch đã phỏng vấn ông Phạm Quang Huy – giám đốc Công ty Du lịch dịch vụ dầu khí Việt Nam là người thường xuyên theo dõi sát sao Báo Du lịch trong 5 năm qua. Thưa ông, là người quản lý doanh nghiệp du lịch trực thuộc ngành, thường xuyên đọc và theo dõi báo Du lịch, vậy ông có nhận xét gì về các trang mục của báo? Trong nhiều năm qua, là bạn đọc thường xuyên và trung thành của Báo Du lịch trước đây là Báo Tuần Du lịch, tôi thực sự phấn khởi khi thấy Báo Du lịch ngày càng có nhiều sự tiến bộ và phát triển về cả nội dung cũng như hình thức, số lượng cũng như chất lượng trên trang báo. Chắc chắn không chỉ riêng tôi mà cả đông đảo bạn đọc đều đánh giá là Báo Du lịch có sự đổi mới rõ rệt về cả nội dung và cả hình thức. Có thể nói rằng Báo Du lịch là tờ báo đưa thông tin về hoạt động du lịch một cách nhanh nhất đến bạn đọc trong và ngoài ngành du lịch. So với những tờ báo khác trên những lĩnh vực khác nhau, Báo Du lịch chưa phải là tờ báo có số lượng phát hành lớn và có đông đảo bạn đọc. Tuy nhiên, đứng trên phương diện là tờ báo của ngành. Báo Du lịch đã có những tiến bộ rõ nét. Báo Du lịch thực sự là công cụ đắc lực trong việc tuyên truyền, quảng bá các chủ trương, chính sách của Đảng, nhà nước, các quy định của ngành Du lịch cũng như quảng bá cho các doanh nghiệp du lịch. Những đóng góp này của báo là rất đáng trân trọng bởi nó đã góp phần vào sự phát triển của ngành du lịch và bước phát triển mạnh mẽ của báo chí cách mạng Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Chính vì xác định Báo Du lịch là phương tiện tốt trong hoạt động quảng bá du lịch, nhiều năm qua Công ty chúng tôi đã thường xuyên thông tin, quảng cáo trên báo và đã thu được những kết quả tốt đẹp. Để Báo Du lịch ngày càng phát triển và thu hút bạn đọc, theo ông báo cần cải tiến nội dung và hình thức ra sao? Theo ý kiến của cá nhân tôi, Báo Du lịch cần nâng cao chất lượng các ấn phẩm, đổi mới và tăng lượng thông tin trên báo không chỉ cập nhật mà còn phải rất sát sườn với hoạt động của ngành cũng như của các doanh nghiệp du lịch. Và một điều rất quan trọng là báo cần phải tăng tính chiến đấu. Theo tôi, để đạt được những mục tiêu này, trước hết Báo Du lịch cần phải quan tâm đến công tác đào tạo đội ngũ phóng viên, biên tập viên, nhà báo có trình độ cao, đặc biệt là kiến thức chuyên sâu về du lịch. Mặt khác Báo Du lịch cần phải được đầu tư tốt hơn về các phương tiện kỹ thuật, nhất là cơ sở vật chất, kỹ thuật, phục vụ cho việc thu nhập thông tin, biên tập, và in ấn. Nguồn vốn đầu tư có thể đề xuất từ nguồn ngân sách Nhà nước phục vụ cho chương trình hành động quốc gia về du lịch. Mặt khác, theo tôi Báo Du lịch nên tăng lượng phát hành hơn nữa, bởi số lượng phát hành như hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu của đông đảo bạn đọc. Ngoài ra, Ban biên tập nên xem xét nếu có thể thì tăng vài trang mục bằng tiếng Anh để phục vụ bạn đọc trong các tổ chức và cá nhân người nước ngoài quan tâm đến du lịch Việt Nam. Nhân kỷ niệm 5 năm ngày thành lập Báo Du lịch và bước sang năm mới 2003, thay mặt cho toàn thể cán bộ công nhân viên của Công ty Du lịch dịch vụ Dầu khí Việt Nam, cho phép tôi được gửi đến Ban biên tập, phóng viên, cộng tác viên và đông đảo bạn đọc của báo lời chúc sức khỏe và đạt nhiều thành tựu trong năm mới. Tôi cũng tin tưởng rằng, Báo Du lịch sẽ có những bước phát triển vững chắc trong thời gian tới để góp phần đưa du lịch Việt Nam ngày càng vươn cao, vươn xa, xứng đáng là ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước. Xin cảm ơn về những lời nhận xét chân thành của ông dành cho Báo Du lịch.
Nguyên Hưng-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 3(272)2003.

Du lịch miền trung tây nguyên

Nỗ lực đi tìm bản sắc riêng
Miền Trung – Tây Nguyên được xem là một vùng du lịch đầy tiềm năng trên bản đồ du lịch Việt Nam. Mấy năm gần đây, du lịch miền Trung – Tây Nguyên tăng bình quân là 17 phần trăm một năm. Trong đó khách quốc tế tăng gần 28 phần trăm nội địa tăng hơn 16 phần trăm, doanh thu tăng gần 14 phần trăm trong một năm, toàn vùng có hơn 1 nghìn khách sạn, trong đó có 2 khách sạn 5 sao, 4 khách sạn 4 sao, 21 khách sạn 3 sao. Vùng ven biển đã xuất hiện nhiều khu nghỉ mát tầm cỡ quốc tế như Furama – Đà Nẵng, Lăng Cô – Huế, Hoian Beach, Victoria của Hội An, Anna Mandra – Khánh Hòa, Novotel – Phan Thiết. Khu vực này đã có gần 40 dự án có vốn đầu tư nước ngoài được cấp phép hoạt động với số vốn lên hơn 1300 đô la Mỹ. Nhiều dự án đã hoàn thành và đưa vào khai thác có hiệu quả. Tuy vậy, nhìn tổng thể, du lịch miền Trung – Tây Nguyên vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Năm 2000, doanh thu toàn ngành đạt 6.300 tỷ đồng, thì miền Trung – Tây Nguyên chỉ có 712 tỷ đồng. Nhiều du khách quốc tế nói rằng đến miền Trung – Tây Nguyên Việt Nam chỉ cần 400 đô la Mỹ là đủ. Lượng khách du lịch tăng nhưng thời gian lưu trú bình quân chưa đến 2 ngày đối với một du khách. Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010, quy hoạch tổng thể phát triển du lịch miền Trung do JICA thực hiện đều đánh giá cao vị trí, tiềm năng của du lịch miền Trung – Tây Nguyên. Làm gì để vực dậy du lịch miền Trung – Tây Nguyên đã trở thành câu hỏi cần có lời đáp không chỉ từ phía ngành du lịch. Trong dịp tiếp xúc mới đây, Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Võ Thị Thắng cho biết: Tổng cục Du lịch cho biết kế hoạch giúp miền Trung – Tây Nguyên trong công tác tuyên truyền xuất bản các ấn phẩm, tham gia các sản phẩm du lịch mang đậm dấu ấn đặc trưng vùng miền, giúp đào tạo nguồn nhân lực, tiếp tục đẩy nhanh tiến độ đầu tư 3 khu du lịch tổng hợp quốc gia là Cảnh Dương – Lăng Cô – Hải Vân – Non nước (Huế – Đà Nẵng), Vân Phong – Đại Lãnh – Khánh Hòa, Dankia – Suối vàng tỉnh Lâm Đồng và các khu du lịch chuyên đề… nhằm đánh thưc tiềm năng phát triển mạnh du lịch khu vực này. Sau sự kiện phố cổ Hội An và khu di tích Thánh địa Mỹ Sơn được công nhận là di sản văn hóa thế giới, cùng với Huế tạo thành tam giác di sản thế giới đã trở thành một cơ hội vàng cho ngành du lịch. Liên kết tạo sản phẩm liên vùng, có bản sắc riêng của khu vực là một xu hướng hiện nay mà sự ra đời ban điều hành con đường di sản thế giới tại miền Trung được đánh giá là một sáng tạo của các địa phương. Một con đường du lịch nối các địa điểm du lịch từ Nghệ An đến Ninh Thuận và Lâm Đồng với nhiều loại hình du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch sinh thái nghỉ dưỡng rừng, biển, tham quan các làng nghề truyền thống… lấy cụm 3 di sản văn hóa thế giới là Huế – Mỹ Sơn – Hội An làm tâm điểm. Sự ra đời con đường di sản trong bối cảnh Đà Nẵng đang phát triển thành cửa ngõ quốc tế của miền Trung, vùng đất đang trỗi dậy với nhiều dự án trọng điểm của quốc gia như đường hầm xuyên Hải Vân, khu kinh tế Dung Quất, khu kinh tế mở Chu Lai,…. Đang mở ra một hướng phát triển mới đầy triển vọng cho ngành du lịch khu vực này.
Nguyễn Vân Thiêng-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm số 47(212) năm 2001

Cà mau phát hiện 130 sách cổ quý hiếm

Sở văn hóa Thông tin – Cà Mau vừa phát hiện 130 sách cổ quý đang được ông Nguyễn Văn Nguyên lưu giữ cẩn thận. Tất cả những cuốn sách này được viết bằng tay, chữ viết Hán – Nôm rồi in ấn lại theo kỹ thuật thủ công có từ thế kỷ 18 đến 19. Nội dung các cuốn sách là ghi chép những vấn đề khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, địa lí, y học, các bài thuốc gia truyền, thuật xem tướng số… Hiện ông Nguyên đã tự nguyện giao lại toàn bộ số sách này cho Thư viện Cà Mau quản lý.
Lâm Đồng hiện có 51 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư là 868 triệu đô la Mỹ. Năm 2002, Lâm Đồng thu hút thêm 6 dự án đầu tư được cấp phép, với tổng vốn đăng ký 5,2 triệu đô la Mỹ. Tính đến nay, toàn tỉnh có 51 dự án đầu tư nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 868 triệu đô la Mỹ chủ yếu vào lĩnh vực du lịch và nông sản cao cấp. Trong đó 39 dự án đã và đang hoạt động, doanh thu năm 2002 đạt 20,5 triệu đô la Mỹ, nộp ngân sách đạt 7,6 tỷ đồng. Các dự án hoạt động đã giải quyết việc làm cho 4.273 lao động địa phương, thu nhập bình quân 700 nghìn đồng cho một người cho một tháng đến 800 nghìn đồng người trong một tháng.
Tết quý mùi, Cần Thơ có công viên nước hiện đại đầu tiên ở Đồng Bằng Sông Cửu Long.
Giai đoạn I của Công viên nước Cần Thơ được khởi công xây dựng vào tháng 9 năm 2002 tại khu D1 phường Cái Khế, Thành phố Cần Thơ trên diện tích là 3,6 héc ta dự kiến sẽ hoàn thành và đưa vào sử dụng đúng vào dịp tết Nguyên đán quý Mùi năm 2003, với các hạng mục dòng sông lười, máng trượt lướt đôi, máy siêu trượt mở trực tiếp, hồ tạo sóng, hồ thiếu nhi và các trò chơi hiện đại, như máng trượt phao lắc ngang MK1, ống trượt xoáy lốc và tháp trượt cao tốc cao tới 22 mét. Được biết công viên nước Cần Thơ sẽ là công viên nước hiện đại đầu tiên ở khku vực Đồng Bằng Sông Cửu Long.
Tổng công ty Hàng không Việt Nam đón hành khách thứ 4 triệu: Vừa qua, Tổng công ty Hàng không Việt Nam long trọng tổ chức lễ đón hành khách thứ 4 triệu của năm 2002. Vị khách có được vinh dự đó là ông Bernard Hoyaux 60 tuổi, khách du lịch người Pháp đi chuyến bay quốc tế từ Pari đến Hà Nội. Đây là sự kiện quan trọng đánh dấu bước phát triển của Hàng không Việt Nam, thể hiện sự nỗ lực của tập thể cán bộ, công nhân viên của Tổng công ty Hàng không Việt Nam trong năm 2002. Tính đến hết năm 2002, tổng doanh thu của Tổng công ty Hàng không Việt Nam đạt tới 11 nghìn tỷ đồng, vượt qua 3 phần trăm so với kế hoạch. Trong 4 triệu khách mà hãng vận chuyển có 2,3 triệu khách nội địa, 1,7 triệu khách quốc tế, được biết đây là mức tăng trưởng cao nhất kể từ năm 1996 đến nay.
Đak Lak khánh thành và đưa vào sử dụng khách sạn Bạch Mã. Với tổng vốn đầu tư là 30 tỷ đồng, sau 18 tháng thi công đến nay khách sạn Bạch Mã số 9 – 11 Nguyễn Đức Cảnh, thành phố Buôn Ma Thuột tỉnh Đak Lak đã khánh thành và đưa vào sử dụng. Khách sạn ba sao này có 5 tầng, 54 phòng với đầy đủ tiện nghi phục vụ khách quốc tế, hai nhà h àng lớn với sức chứa 1.200 khách, phòng hội nghị 200 chỗ ngồi, 2 phòng tắm hơi, 14 phòng mát xa, 4 phòng karaoke, phòng dancing và phòng thể dục thể hình. Hệ thống điện, nước và cây cảnh được bố trí hài hòa, hợp lý tạo nên vẻ đẹp lộng lẫy và trang nhã của khách sạn. Đến nay tỉnh Đak Lak có 14 khách sạn được xếp sao, trong đó có 3 khách sạn đạt tiêu chuẩn khách sạn ba sao.
Công ty Hàng không cổ phần Pacific Airlines khai trương đường bay mới Đà Nẵng – Hà Nội – Đà Nẵng. Vừa qua, Công ty Hàng không cổ phần Tổng công ty Hàng không Việt Nam chính thức khai trương đường bay mới Đà Nẵng – Hà Nội và ngược lại trên chiếc Airbus 300. Mỗi tuần gồm 5 chuyến bay vào các ngày thứ 2, thứ 4, thứ 5, thứ 6, chủ nhật xuất phát từ Đà Nẵng vào lúc 9 giờ 50. Nhân dịp khai trương đường bay mới, Công ty đã áp dụng giá ưu đãi dành cho khách hàng như giảm giá từ 1.490 nghìn đồng xuống 1.150 nghìn đồng cho một vé, miễn phí dịch vụ vận chuyển mặt đất từ Cảng Hàng không sân bay Nội Bài về trung tâm thành phố Hà Nội và ngược lại. Đường bay này hình thành đã hoàn thiện thêm mạng bay của Tổng công ty Hàng không Việt Nam và đáp ứng nhu cầu đi lại ngày càng cao của du khách.
T.H-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 3(272)2003.

Phố cổ hà nội

Cẩn thận với giặc lửa
Hiện nay, phố cổ Hà Nội là một trong những điểm dừng chân của rất nhiều du khách trong và ngoài nước. Sự đan xen giữa yếu tố truyền thống và hiện đại về kiến trúc đã tạo cho quần thể khu phố này một nét hấp dẫn riêng mà bất cứ du khách nào đến đây cũng muốn khám phá. Tuy nhiên, đây cũng là nơi được liệt vào danh sách những trọng điểm có nguy cơ cháy cao nhất của thành phố Hà Nội.
Nguy cơ cháy cao, khả năng thoát hiểm thấp
Theo thiếu tá Lê Phi Hùng, phòng cảnh sát phòng cháy chữa cháy công an thành phố Hà Nội, hiện nay phố cổ Hà Nội là một trong những trọng điểm có nguy cơ cháy cao. Có rất nhiều phố cổ trung khu vực phố cổ như Hàng Nón, Hàng Chiếu, Hàng Mã… bán các loại hàng hóa dễ cháy như cồn công nghiệp, vải, dung môi, hàng mã… Hơn nữa, vì không gian chật hẹp, tấc đất tấc vàng nên các gia chủ ở khu phố cổ luôn tận dụng hết mọi khoảng trống cho việc sinh hoạt và buôn bán. Có gia đình từ 5 người đến 6 người mà sinh hoạt và bán hàng trong một căn nhà diện tích chỉ có khoảng chừng 25 mét vuông, đã thế lại còn cho thuê gửi hàng, tận dụng hết các diện tích phụ. Tình trạng sử dụng các thiết bị điện cũng rất tùy tiện. Gần đây khi mục sở thị tại một số khu phố như Hàng Vải, Hàng Buồm… chúng tôi thấy lưới điện đan nhau chẳng khác gì những ổ mạng nhện. Nhìn qua, cũng có thể thấy các thiết bị điện không hề đảm bảo tiêu chuẩn an toàn nào và rất dễ trở thành thủ phạm gây ra hỏa hoạn. Mới đây, sau khi giới thiệu những nét đặc trưng của phố cổ khiến các vị khách nước ngoài rất thích thú, đến phố Hàng Buồm thấy mấy cột điện chằng chịt dây dợ họ hỏi: “Hình như đó cũng là nét cổ?” thì anh bạn hướng dẫn viên của tôi chẳng biết trả lời thế nào nữa. Được biết hàng năm người dân ở phố cổ mua mới và sử dụng hàng trăm dụng cụ điện nhưng hầu như các thiết bị tải điện lại không hề được thay thế. Nguy hiểm hơn, hầu như các mặt hàng dễ cháy đều được sắp xếp gần, thậm chí đè lên các thiết bị điện đã xuống cấp, trong khi phòng cảnh sát phòng cháy chữa cháy công an thành phố Hà Nội đã cảnh báo đa phần các vụ hỏa hoạn trong những năm gần đây đều xuất phát từ việc sử dụng điện tùy tiện. Nếu có những đám cháy đầu ngõ bị gió lùa sẽ không còn đường thoát vì tất cả các hộ dân đều đi chung duy nhất một ngõ. Hơn nữa, đi chung duy nhất một ngõ. Hơn nữa các hộ gia đình lại ở san sát với nhau nên khi hỏa hoạn xảy ra thì lửa sẽ lan với tốc độ rất là nhanh mà xe cứu hỏa khó có thể tiếp cận được điểm cháy.
Giải pháp nào để chống giặc lửa
Việc nhanh chóng tìm ra các biện pháp hữu hiệu để bảo vệ phố cổ Hà Nội trước giặc lửa là rất cấp thiết. Theo ông Hùng, từ năm 1994, phòng cảnh sát phòng cháy chữa cháy công an thành phố Hà Nội đã triển khai chương trình phòng cháy chữa cháy trên toàn thành phố. Theo đó, lãnh đạo và lực lượng chữa cháy của mỗi khu phố phải nắm vững được địa bàn, các điểm có nguy cơ cháy cao, tính chất cháy nổ và nếu trường hợp xấu nhất xảy ra thì tổ chức lực lượng phòng cháy chữa cháy tại địa bàn giữ gìn tốt trật tự tại điểm xảy ra cháy, lực lượng tham gia chống cháy, lực lượng cứu hộ đầy đủ, bảo đẩm để xe chữa cháy có thể tiếp cận điểm cháy… Tuy nhiên cũng cần tính đến một kế hoạch lâu dài, mà theo chúng tôi phương thức phòng hơn chống vẫn là quan trọng nhất. Để làm được điều này, việc nâng cao nhận thức của người dân, thậm chí cả du khách tham quan trong việc phòng cháy chữa cháy phải được đặt lên hàng đầu. Các cơ quan liên quan cần liên tục tuyên truyền, vận động người dân cam kết công tác phòng cháy chữa cháy, tiến hành các cuộc thao diễn để người dân và lực lượng phòng cháy dễ dàng ứng phó với các tình huống thật nếu hỏa hoạn có xảy ra. Để phòng và ngăn chặn giặc lửa không chỉ là công việc riêng của lực lượng phòng cháy chữa cháy mà đó là trách nhiệm chung của toàn xã hội chứ không chỉ riêng ai.
Phùng Tuấn-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 13(334)2004.

Nghệ sĩ quang thọ người lính người thầy

Giữa những năm tháng khốc liệt nhất của cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, giọng nam cao vang ấm và khỏe khoắn của nghệ sĩ Quang Thọ chàng công nhân vùng mỏ đã góp phần truyền đi tình cảm sâu nặng của hậu phương miền Bắc dành cho chiến trường miền Nam. Năm 1970 mong muốn được trực tiếp phục vụ những người lính, nghệ sĩ Quang Thọ tình nguyện cùng đoàn nghệ thuật tỉnh Quảng Ninh vào chiến trường miền Nam. Hai năm được hát cho các chiến sĩ đang ngày đêm chiến đấu dưới mưa bom bão đạn là thời gian thiêng liêng nhất đối với nghệ sĩ Quang Thọ. Anh bùi ngùi tâm sự có những thương binh nặng nói dù rằng có chết cũng mãn nguyện vì được nghe những bài hát về quê hương, về con người về bạn bè… Xúc động trước những con người đó tôi đã say sưa hát suốt buổi chiều trước khi hành quân…. Hát cả đêm dưới ánh đèn dầu le lói… Năm 1972, chia tay với chiến trường miền Nam, nghệ sĩ Quang Thọ ra học ở nhạc viện Hà Nội, nhưng trong anh vẫn không nguôi hình ảnh về lòng quả cảm, sự hy sinh của đồng đội nơi tuyến lửa, bởi vậy các ca khúc về người lính được anh thể hiện ngày càng nồng nàn, sâu lắng, hùng hôn hơn. Sau khi tốt nghiệp khoa thanh nhạc của Nhạc viện Hà Nội năm 1980, nghệ sĩ Quang Thọ về đoàn ca múa nhạc Trung ương và anh đã bắt đầu khẳng định được tên tuổi của mình dưới ánh đèn sân khấu. Trở lại khoa thanh nhạc nhạc viện Hà Nội phụ trách công tác giảng dạy, nghệ sĩ Quang Thọ đã dành trọng tâm huyết của mình cho việc đào tạo, dìu dắt thế hệ trẻ. Anh rất quan tâm đến việc giáo dục, hướng dẫn học sinh tìm hiểu truyền thống hào hùng của dân tộc để giúp các em gắn bó và thể hiện tốt hơn những ca khúc về đất nước, về tình đồng đội, về người lính và đặc biệt là các khúc về nhân dân. Đặc biệt, nghệ sĩ Quang Thọ luôn tìm cách làm cho hình ảnh người lính sống mãi qua các ca khúc. Và những nỗ lực của thầy nghệ sĩ Quang Thọ đã được đền đáp. Nhiều học sinh, sinh viên của anh đã đạt được kết quả cao trong các cuộc thi mang tính chuyên nghiệp mà gần đây nhất là giải Sao Mai của Liên hoan tiếng hát truyền hình toàn quốc lần thứ ba năm 2001 với nhiều tên tuổi đầy triển vọng như Đăng Dương, Việt Hoàng, Trọng Tấn, Hồng Vy….
m hưởng Tây Nguyên giữa lòng Hà Nội
Giữa phố phường náo nhiệt của Hà Nội, có một căn phòng nhỏ là thế giới riêng biệt của nghệ sĩ Lê Mây. Nơi đây vẫn thường vang lên những bản nhạc mang đậm âm hưởng Tây Nguyên, với các loại đàn T’rưng mini, đàn gió, đàn Zora và cả cồng chiêng do ông chế tác. Vốn say mê âm nhạc từ tuổi ấu thơ, Lê Mây đã theo học ở nhạc viện Hà Nội rồi sau đó về công tác tại Nhà hát ca múa nhạc Trung ương. Đến nay đã ngoài 60 tuổi nhưng ông vẫn dành hết tâm trí cho nghiên cứu, sáng tác âm nhạc và chết tạo ra nhiều loại nhạc cụ. Từ những năm 1992 đến năm 1993 ông đã bắt đầu đưa vào sản xuất những chiếc đàn T’rưng Tây Nguyên vài chục lần. Đàn của ông làm bằng nguyên liệu tre, trúc, nứa. Có giá đàn là tay tre, củ tre được ông lựa chọn từ những chuyến đi lên vùng núi đá vào mùa khô. Thân đàn được tạo dáng, mang hình nhà rông Tây Nguyên hoặc hình chim lạc trên trống đồng Đông Sơn. Dàn phím có hình dáng bức chúc thư với những ống trúc được lựa chọn kì công có độ dài ngắn, dày mỏng, già non, to nhỏ khác nhau để có âm thanh chuẩn xác, trong trẻo của đàn T’rưng Tây Nguyên. Năm 1994, ông tiếp tục cho ra đời loại đàn gió có hình chiếc thảm thần trong truyện cổ tích. Chỉ một làn gió thổi qua là đàn ngân lên những âm thanh du dương quyến rũ. Tháng 7 năm 2000, một loại đàn mới của ông ra đời có tên là Zora, có nghĩa là rổ rá. Đúng như tên gọi chiếc đàn này gồm một chiếc rổ và một chiếc lá nhỏ hơn lồng bên trong, dàn phím gồm 7 ống trúc với 7 âm thanh khác nhau của bộ cồng chiêng. Các sản phẩm nói trên của nhạc sĩ Lê Mây chủ xưởng sản xuất bốn loại đàn nói trên đang được phổ biến trên thị trường không ít khách du lịch nước ngoài đã tìm đến tận xưởng để mua đàn của ông làm kỷ vật cho chuyến duy lịch đến Việt Nam. Nhạc sĩ Lê Mây còn là tác giả của nhiều ca khúc, nhiều bản nhạc được nhiều người biết đến và được yêu thích. Đặc biệt, bài hát dành cho thiếu nhi với tựa đề trẻ em hôm nay thế giới ngày mai đã được chọn là một trong 50 bài hát hay nhất của thế kỷ thứ XX của Việt Nam.
Dương Thủy-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – số 47(212) năm 2001